First First First First First Second Third Four
00:45 ICT Chủ nhật, 17/10/2021

Báo cáo Tổng kết 15 năm thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” thành phố Nha Trang ( 2000-2015)

Thứ năm - 03/12/2015 07:15
I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO TRIỂN KHAI THỰC HIỆN PHONG TRÀO TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
1. Công tác ban hành và chỉ đạo triển khai thực hiện phong trào:
Trong 15 năm qua, thành phố đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo phong trào nhằm phù hợp với từng giai đoạn như: Kế hoạch số 1184/UB ngày 23/10/2001 của UBND thành phố Nha Trang về việc triển khai phong trào TDĐKXDĐSVH 5 năm (2001 – 2005); Chương trình số 118/CTr-BCĐ ngày 22/01/2007 của Ban Chỉ đạo thành phố về  thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH giai đoạn 2006 – 2010; Kế hoạch số 2572/UBND-VHTT, ngày 04/6/2012 của UBND thành phố Nha Trang về việc thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH giai đoạn 2012 – 2015, định hướng 2020. Các văn bản trên đã được tổ chức phổ biển, triển khai đến tận các cơ quan phòng, ban, đơn vị thuộc thành phố, các đoàn thể chính trị- xã hội thành phố và UBND các xã, phường và trên cơ sở đó từng phòng, ban, đơn vị, đoàn thể và UBND các xã, phường tổ chức xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện phong trào. 
Bên cạnh đó, thành phố cũng đã triển khai lồng ghép với các chương trình kinh tế - xã hội của thành phố và các văn bản chỉ đạo của Thành ủy như: Chỉ thị 03-CT/TU ngày 10/8/2001 của Thành ủy Nha Trang “Về việc tăng cường công tác bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Nha Trang”; Chỉ thị 05-CT/TU ngày 10/01/2007 của Thành ủy Nha Trang “về tập trung công tác giải quyết cơ bản tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố”; Kế hoạch số 89-KH/TU ngày 29/10/2009 của Thành ủy “về triển khai thực hiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 22/7/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội”. 
Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện phong trào, thành phố luôn chú trọng công tác sơ kết, tổng kết phong trào theo từng giai đoạn hàng năm, 5 năm và 10 năm nhằm động viên và khen thưởng kịp thời các đơn vị đạt thành tích xuất sắc trong thực hiện phong trào “TDĐKXDĐSVH”.
Công tác tổ chức tập huấn nghiệp vụ phong trào cũng được Ban Chỉ đạo thành phố duy trì tổ chức tập huấn hàng năm nhằm phổ biến các văn bản quy định mới và hướng dẫn chuyên môn cho Ban Chỉ đạo các xã, phường và Ban Vận động các thôn, tổ. Trong 15 năm qua đã tổ chức được 10 lớp tập huấn với trên 1000 lượt người tham gia. 
2. Tình hình đầu tư ngân sách cho hoạt động phong trào:
Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của Trung ương, tỉnh về kinh phí hoạt động triển khai thực hiện phong trào của Ban Chỉ đạo các cấp, UBND thành phố đã kịp thời cân đối kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo thành phố và xã, phường. Ngân sách thành phố đã chi cho hoạt động của Ban Chỉ đạo thành phố là 375.544.520 đồng và Ban Chỉ đạo các xã, phường trên 4 tỷ đồng (không tính kinh phí khen thưởng và công nhận các danh hiệu văn hóa).
3. Tình hình thực hiện chính sách thu hút cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hỗ trợ kinh phí cho phong trào:
 Trong 15 năm qua, ngoài ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động phong trào, thành phố và xã, phường đã tích cực kêu gọi sự tài trợ, ủng hộ và giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp cho các hoạt động thiết thực của phong trào như: Quỹ vì người nghèo, khuyến học, quỹ bảo trợ trẻ em nghèo hiếu học và phong trào văn hóa-văn nghệ. Đối với việc hỗ trợ đầu tư xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao chưa được các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp ủng hộ do chưa có chính sách ưu đãi cụ thể về thuế, về đất đai và về vay vốn nên chưa thu hút được sự hỗ trợ.
4. Công tác kiện toàn và thực hiện quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo thành phố và xã, phường:
- Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương, tỉnh, thành phố đã ban hành Quyết định số 1481/QĐ-UB ngày 28/6/1999 về việc thành lập Ban Chỉ đạo cuộc vận động “TDĐKXDĐSVH” thành phố Nha Trang gồm có 17 thành viên, do đồng chí Phó Chủ tịch UBND thành phố làm Trưởng ban; Trưởng Phòng Văn hoá và Thông tin làm Phó Trưởng ban Thường trực; lãnh đạo UBMTTQVN thành phố làm Phó ban và đại diện các các cơ quan, ban ngành tham gia thành viên Ban Chỉ đạo. Hàng năm, căn cứ vào nhu cầu nhiệm vụ và thay đổi nhân sự lãnh đạo các phòng, ban chuyên môn thành phố đã kịp thời ban hành các Quyết định kiện toàn Ban Chỉ đạo nhằm đáp ứng kịp thời cho công tác chỉ đạo phong trào được thường xuyên và liên tục. 
- UBND thành phố đã ban hành Quy chế Tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo phong trào, từ đó Ban Chỉ đạo thành phố đã tiến hành phân công nhiệm vụ cho từng thành viên Ban Chỉ đạo và duy trì chế độ hội họp theo Quy chế đã đề ra.
- Trên cơ sở đó UBND 27 xã, phường đều thành lập Ban Chỉ đạo và ban hành Quy chế Tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo phong trào cấp xã. 
5. Công tác vận động, tuyên truyền thực hiện phong trào:
- Trong 15 năm qua, thành phố đã tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: Tuyên truyền trên hệ thống Đài Truyền thanh, tuyên truyền trực quan bằng pa nô, băng- rôn, khẩu hiệu, văn nghệ cổ động, tuyên truyền trong sinh hoạt các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, các Câu lạc bộ và trong các cuộc họp nhân dân tại thôn, tổ dân phố. Thành phố đã phát hành 68.000 tờ gấp tuyên truyền về các tiêu chí xây  dựng “Gia đình văn hóa”, “Làng văn hóa - Tổ dân phố văn hóa” và mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa của thành phố Nha Trang đến từng hộ gia đình; tổ chức 4 lượt Liên hoan các Làng Văn hóa thành phố Nha Trang, tổ chức tuyên truyền thực hiện Quy chế nếp sống văn minh đô thị trên địa bàn thành phố Nha Trang, Đề án xây dựng nông thôn mới đến từng địa bàn dân cư…
- Đài Truyền thanh thành phố thường xuyên tuyên truyền về công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và phổ biến, giáo dục pháp luật. Duy trì hàng tuần chuyên mục “xây dựng đời sống văn hóa” và chuyên mục “pháp luật và đời sống” để tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, những gương điển hình người tốt, việc tốt. 
- Các đoàn thể chính trị - xã hội từ thành phố đến xã, phường đã phối hợp tuyên truyền sâu rộng trong hội viên, đoàn viên, gắn với hoạt động của các Câu lạc bộ như: Câu lạc bộ gia đình văn hóa, Câu lạc bộ ông bà cháu, Câu lạc bộ không sinh con thứ ba, Câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững, Nhóm phòng, chống bạo lực gia đình. Nhờ đó, tiếp tục tạo được sự chuyển biến trong nhận thức của nhân dân về xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng khu dân cư văn hóa. 
6. Các hoạt động chỉ đạo và triển khai thực hiện việc nâng cao chất lượng phong trào:
Để không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của phong trào “TDĐKXDĐSVH” trên địa bàn thành phố Nha Trang, Ban Chỉ đạo thành phố hàng năm đều xác định những nhiệm vụ trọng tâm để triển khai nâng cao chất lượng phong trào cho phù hợp với từng giai đoạn. Ngoài việc tập trung triển khai theo 6 nội dung chủ yếu của Ban Chỉ đạo Trung ương đề ra, thành phố tập trung triển khai công tác vận động nhân dân treo Quốc kỳ trong các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị, Tết cổ truyền của dân tộc theo hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, từ công tác vận động, tỉ lệ các hộ gia đình treo quốc kỳ trong các ngày lễ, tết, ngày kỷ niệm được nâng lên rõ rệt, bình quân trên 90% các hộ gia đình treo Quốc kỳ trong các dịp lễ, tết, đặc biệt là các tuyến đường phố chính nhân dân treo Quốc kỳ theo hướng dẫn của thành phố đã góp phần tạo sự trang trọng, tôn nghiêm phấn khởi trong các dịp lễ, tết, ngày kỷ niệm; triển khai thực hiện “Quy chế thực hiện nếp sống văn minh đô thị trên địa bàn thành phố Nha Trang”; triển khai tuyên truyền, vận động cán bộ và nhân dân không rãi tiền thật, rắc vàng mã trên đường đưa tang và tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm các vấn đề nổi cộm tại các thôn, tổ dân phố  trên các lĩnh vực như: Trật tự xã hội, trật tự đô thị, vệ sinh môi trường, dân số - kế hoạch hóa và các tệ nạn xã hội.
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC  PHONG TRÀO
1. Phong trào xây dựng gương người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến:
- Trong 15 năm qua, cuộc vận động “TDĐKXDĐSVH” thành phố đã xuất hiện nhiều gương sản xuất kinh doanh giỏi, cán bộ tận tụy với phong trào và gương “người tốt -việc tốt”. Từ năm 2000 đến năm 2014, toàn thành phố có 222 gia đình văn hóa tiêu biểu được thành phố biểu dương và tặng giấy khen; 47 gia đình, cá nhân tiêu biểu được UBND tỉnh biểu dương và tặng Bằng khen và 03 gia đình văn hóa được biểu dương cấp Trung ương.
 - Những tấm gương tiêu biểu như: trong phong trào nông dân sản xuất giỏi có ông Dương Ngọc Dũng, xã Vĩnh Thái với mô hình nuôi tôm thâm canh, thu mua phế liệu, lợi nhuận hàng năm từ 80 – 100 triệu đồng, được Trung ương Đoàn TNCSHCM tặng bằng khen thanh niên nông thôn sản xuất kinh doanh giỏi toàn quốc; ông Ngô Mạnh Thắng, xã Phước Đồng với mô hình kinh tế VAC, ông Mai Tân, phường Vĩnh Nguyên với mô hình khai thác thủy sản, ông Nguyễn Tôn, xã Vĩnh Lương với mô hình đánh bắt xa bờ, lợi nhuận hàng chục triệu đồng/năm, giải quyết được nhiều lao động tại địa phương; ông Nguyễn Văn Phàn, xã Vĩnh Ngọc là hộ chăn nuôi, trồng trọt giỏi làm giàu từ nông nghiệp…
- Cán bộ các Chi hội phụ nữ xã, phường rất tích cực trong việc tổ chức cho phụ nữ nghèo vay vốn xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, bảo vệ quyền lợi cho phái nữ, đã xuất hiện rất nhiều gương điển hình tiên tiến được Trung ương Hội, Tỉnh Hội, Tỉnh ủy, Thành ủy biểu dương, khen thưởng như chị Nguyễn Thị Gõ (Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Vĩnh Phương), chị Nguyễn Thị Lam (Chủ tịch Hội Phụ nữ phường Vĩnh Nguyên)… 
- Trong phong trào phòng ngừa và đấu tranh trấn áp tội phạm, bảo vệ an ninh trật tự có các gương “người tốt - việc tốt” được biểu dương. Trong công tác đảm bảo an ninh trật tự như Trung tá Huỳnh Long Tân, cảnh sát khu vực tổ dân phố Cù Lao Thượng, phường Vĩnh Thọ; trong công tác tuyên truyền bảo đảm trật tự an toàn giao thông như trung tá Lê Bửu Thọ - Đội Cảnh sát giao thông; trong công tác lãnh đạo chỉ đạo lực lượng cảnh sát khu vực ở địa bàn cơ sở như Thiếu tá Nguyễn Quốc Khánh, Phó Trưởng Công an phường Phước Tiến.
- Trong cuộc vận động “TDĐKXDĐSVH” ở khu dân cư có nhiều cán bộ thôn, tổ đã tận tụy, không mệt mỏi xây dựng phong trào như ông Nguyễn Xuân (Thôn trưởng thôn Vĩnh Điềm Thượng, xã Vĩnh Hiệp), ông Tôn Thất Truy (Trưởng ban công tác mặt trận tổ dân phố Hồng Bàng, phường Phước Tiến), bà Bùi Thị Phi Thường (Tổ trưởng tổ dân phố 1 Thái Nguyên, phường Phước Tân), ông Nguyễn Hoàng Minh (Tổ trưởng tổ dân phố 7 Phường Củi Tây, phường Phương Sài), ông  Huỳnh Ngọc Anh (Bí thư Chi bộ tổ Vạn Lợi, phường Vạn Thạnh).
- Trong nhiệm vụ "tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" giai đoạn 2012 – 2015, qua đánh giá của Ban Tuyên giáo Thành ủy, năm 2012 chọn 05 đơn vị điển hình về sự chuyển biến: phường Vĩnh Trường, Trường THPT Lý Tự Trọng, Trường THCS Lê Thanh Liêm, Tổ dân phố số 9 Hòa Bắc phường Vĩnh Hòa, thôn Ngọc Hội xã Vĩnh Ngọc.
- Trong cuộc sống hàng ngày, còn có rất nhiều gương “người tốt, việc tốt” xuất hiện trong quá trình thực hiện cuộc vận động “TDĐKXDĐSVH” ở cơ sở, tạo nét đẹp trong cộng đồng dân cư ngày càng đậm nét hơn, nhưng tại báo cáo này chúng ta không thể nêu hết được.
2. Xây dựng gia đình văn hoá:
- Công tác xây dựng “Gia đình văn hóa” thành phố đã triển khai thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Trung ương từ việc tổ chức đăng ký đến bình xét, công nhận và cấp Giấy chứng nhận cho các hộ đạt chuẩn GĐVH. Việc bình xét GĐVH được nhiều xã, phường thực hiện chặt chẽ, công khai, dân chủ có tác dụng giáo dục. Những nội dung được chú ý khi bình xét Gia đình văn hóa là việc chấp hành luật pháp của Nhà nước về an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, gia đình không có người mắc tệ nạn xã hội, giữ gìn vệ sinh môi trường, gia đình hòa thuận, không có bạo lực trong gia đình, tham gia sinh hoạt thôn, tổ dân phố và tương trợ cộng đồng. Các phường Lộc Thọ, Vạn Thạnh, Phước Tiến, Phương Sơn, Ngọc Hiệp, Phước Long, Phương Sài đã làm tốt công tác bình xét và công nhận GĐVH trong 15 năm qua. Phong trào xây dựng gia đình văn hóa đã có tác dụng góp phần nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên, nhân dân về vai trò, vị trí quan trọng của gia đình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, coi đầu tư cho gia đình là đầu tư cho phát triển tiêu biểu có hộ gia đình ông Tôn Thất Chung ở Tổ 2 Hoàng Diệu phường Vĩnh Nguyên là một gia đình hiếu học có 8 người con, 15 cháu đều được học hành đến nơi đến chốn, các con cháu đã trưởng thành đều có trình độ từ đại học trở lên. Gia đình ông Nguyễn Quang Minh, tổ Hồng Bàng, phường Phước Tiến cũng là gia đình 3 thế hệ, ông bà sống khỏe, sống vui, sống có ích, con cháu hiếu thảo, chăm ngoan, nhiều thành viên trong gia đình có học hàm, học vị cao, thành đạt trong cuộc sống và nhiều gia đình văn hóa tiêu biểu khác trong 15 năm qua đã chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước như: Gia đình ông Đinh Văn Cư, phường Phước Hòa, ông Nguyễn Văn Chiến, xã Vĩnh Ngọc, bà Đào Thu Ba, phường Phương Sơn, bà Hoàng Thị Ngân, phường Vĩnh Hòa và bà Trần Thị Ý, phường Vạn Thạnh..v..v..
Trong phong trào xây dựng gia đình văn hóa, hoạt động của các Câu lạc bộ Ông bà mẫu mực con cháu hiếu thảo, Câu lạc bộ Gia đình văn hóa, Câu lạc bộ không sinh con thứ 3 đã phát huy tác dụng tốt. Đến nay, đã xây dựng được 61 Câu lạc bộ Gia đình văn hóa và 76 Câu lạc bộ Ông bà cháu với hơn 3000 thành viên. Các Câu lạc bộ Gia đình văn hóa xã Vĩnh Thái; phường Vĩnh Nguyên; Tổ dân phố Phước Thọ 2 (Phước Hoà); các  Câu lạc bộ Ông bà cháu Tổ dân phố Tây Sơn (Vĩnh Nguyên ), Tổ dân phố Định Cư (Tân Lập), tổ dân phố Duy Phước 1 (Xương Huân)… có nội dung sinh hoạt bổ ích, phong phú.
Từ những kết quả thực hiện xây dựng gia đình văn hóa, năm 2001, toàn thành phố có 49.485/59.945 hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa đạt tỷ lệ 82,9%, đến năm 2015, có 73.142/77.485 hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa đạt tỷ lệ 94,4%.
       (Kết quả đạt gia đình văn hóa 15 năm xem bảng Phụ lục kèm theo)
3. Xây dựng “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”:
- Thành phố đã triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh về các tiêu chuẩn đạt danh hiệu “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” đến từng xã, phường và thôn, tổ dân phố. Đến cuối năm 2015, toàn thành phố có 361/368 thôn, tổ dân phố đã phát động xây dựng “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”, chiếm tỷ lệ 98%. Có 24/27 xã, phường đã hoàn thành chỉ tiêu 100% thôn, tổ dân phố phát động xây dựng Làng văn hóa - Tổ dân phố văn hóa. 
(Kết quả phát động xây dựng Làng văn hóa – Tổ dân phố văn hóa xem
 bảng phụ lục )
- Việc xây dựng Quy ước các Làng văn hóa, Tổ dân phố văn hoá được tiến hành chặt chẽ. Nội dung Quy ước được xây dựng phù hợp với pháp luật hiện hành và tình hình thực tiễn của địa phương, có tính thống nhất chung và mang tính tự nguyện cao. Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy trong việc đề ra các nội dung, biện pháp xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư trong quy ước. Nhiều thôn, tổ dân phố đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện Quy ước. Qua việc thực hiện quy ước, ý thức chấp hành luật pháp, thực hiện nếp sống văn minh đô thị, tình làng nghĩa xóm, giữ gìn thuần phong mỹ tục trong cộng đồng dân cư ngày càng được nâng cao, các tệ nạn xã hội được tích cực ngăn chặn. Việc tham gia sinh hoạt, hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng dân cư ngày càng được nâng lên, tỉ lệ hộ nhân dân tham dự các cuộc họp tổ dân phố ở các Làng văn hóa, Tổ dân phố văn hóa đông hơn. Mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của khu dân cư đều được đưa ra bàn bạc dân chủ, công khai trong cuộc họp ở thôn, tổ dân phố văn hóa.
- Trong quá trình thực hiện các tiêu chí của phong trào, các Làng văn hóa, 
Tổ dân phố văn hóa tập trung giúp nhau giảm hộ nghèo, phát triển kinh tế bền vững. Bên cạnh hoạt động tín chấp vay vốn, duy trì các tổ tiết kiệm giúp vốn, có thêm mô hình Tổ liên kết sản xuất kinh doanh của các Chi hội Nông dân, Chi hội Cựu Chiến Binh và Chi hội Phụ nữ như ở Tổ dân phố 1 Hồng Bàng phường Tân Lập, tổ dân phố 14 Ngọc Thảo phường Ngọc Hiệp; mô hình giúp phương tiện cho hộ nghèo làm ăn ở phường Phước Hải có hiệu quả tốt.
- Trong thực hiện công tác dân số Kế hoạch hóa gia đình, thành phố đã có trên 76 thôn, tổ dân phố trong 10 năm liền không có trường hợp sinh con thứ 3 góp phần giảm tỷ suất sinh từ 16,2% năm 2000, đến năm 2015 giảm còn 10,71%, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên từ 8,0% năm 2000, đến năm 2015 giảm còn 1,92% tiêu biểu có tổ dân phố văn hóa 1 - 23/10, phường Phương Sơn, tổ dân phố 8, phường Lộc Thọ, tổ dân phố văn hóa Mê Linh, phường Phước Tiến, tổ dân phố văn hóa 4 Hoàng Diệu, phường Vĩnh Nguyên.
- 15 năm qua, ngoài kinh phí chi từ ngân sách, nhân dân các xã, phường đã đóng góp trên 96 tỷ đồng cho chương trình đường hẻm nội thị, giao thông nông thôn, giải toả mặt bằng không tính tiền đền bù, làm cho đường đi lối lại của các thôn, tổ dân phố văn hóa ngày càng khang trang hơn; đến nay 90% đường hẻm nội thành và 90% đường giao thông nông thôn đã được láng bê tông; đường liên thôn được mở rộng, 90% đường hẻm nội thành và đường nông thôn đã được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng, cây xanh được trồng thêm ở từng gia đình và trên đường phố làm cho cảnh quan nhiều thôn, tổ ngày càng xanh - sạch - đẹp. Tiêu biểu có tổ dân phố 1 và 2 Phước Thịnh, phường Phước Long đã vận động nhân dân di dời hàng rào không nhận tiền đền bù để xây dựng đường.
- Công tác khuyến học đã được nhiều địa phương chú trọng và triển khai thực hiện tốt. Hội khuyến học từ thành phố đến cơ sở bước đầu hoạt động có hiệu quả, đã xây dựng được 29 Hội khuyến học ở 27 xã, phường và 02 trường học. Tiêu biểu cho phong trào khuyến học ở khu dân cư là tổ dân phố 7 Phường Củi Tây (Phương Sài), tổ dân phố 14 Ngọc Thảo (Ngọc Hiệp).
- Phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ ở nhiều thôn, tổ dân phố văn hóa tiêu biểu như: Tổ dân phố văn hóa 2 Phước Bình, phường Phước Long, tổ dân phố văn hóa 7 phường Củi Tây phường Phương Sài, tổ dân phố 3, phường Lộc Thọ đã xây dựng và thường xuyên duy trì tổ chức sinh hoạt các Câu lạc bộ Ông bà cháu, dưỡng sinh, thể thao, văn nghệ để góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư.
- Từ những kết quả trên, năm 2001 toàn thành phố có 53/176 thôn, khóm  đạt thôn, khóm văn hóa cấp tỉnh, thành phố, đến cuối năm 2015, toàn thành phố ước có 290/368 thôn, Tổ dân phố được công nhận và giữ vững danh hiệu “ thôn văn hóa – Tổ dân phố văn hóa”, đạt tỷ lệ 80%. Trong đó có 57 thôn, tổ dân phố văn hóa giữ vững và phát huy thành tích “ thôn văn hóa – Tổ dân phố văn hóa” 10 năm liên tục trở lên.
 (Kết quả đạt danh hiệu Làng văn hóa – Tổ dân phố văn hóa xem bảng phụ lục) 
4. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” trong giai đoạn mới:
Thực hiện Chỉ thị 1869/CT-TTg ngày 10/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tri 17/TTr-MTTW-BTT ngày 10/10/2011 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” gắn với xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh, các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động được Mặt trận và các tổ chức thành viên 02 cấp triển khai thực hiện được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng đã đem lại nhiều kết quả đáng phấn khởi. Cuộc vận động đã làm khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết giúp nhau phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, làm giàu hợp pháp ở địa bàn dân cư và được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng tham gia; Với phương châm “Huy động sức dân để chăm lo cuộc sống cho dân”, lấy nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân làm mục tiêu, lấy khu dân cư làm địa bàn thực hiện, cuộc vận động đã tạo điều kiện mở rộng dân chủ trực tiếp của dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị tư tưởng trong nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội, mở rộng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc. Với 05 nội dung của cuộc vận động ngày càng đi vào chiều sâu và gắn với lợi ích của dân và được nhân dân đồng thuận.
- Tổng số khu dân cư không còn trẻ em bỏ học: 342/368  đạt 92,9%.
- Thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, tổng số khu dân cư không có người sinh con thứ ba trở lên: 307/368, chiếm tỷ lệ 92%.
- Kết quả bình xét các danh hiệu thực hiện cuộc vận động:
+ Năm 2001: có 53/176 KDC văn hóa, đạt tỷ lệ 30,1%
                      có 49.695 hộ gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 92,9%
+ Năm 2005: có 104/202 KDC văn hóa, đạt tỷ lệ 51%
                      có 59.827 hộ gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 93,2%
+ Năm 2010: có 193/353 KDC văn hóa, đạt tỷ lệ 55%
     có 68.538 hộ gia đình  văn hóa, đạt tỷ lệ 93,2%
+ Năm 2014: có 288/368 KDC văn hóa, đạt tỷ lệ 78%
    có 72.974 hộ gia đình  văn hóa, đạt tỷ lệ 93,7%
- Kinh phí thực hiện cuộc vận động theo quy định của Tỉnh: 4.000.000 đồng/1 KDC X 368 KDC = 1.356.000.000 đồng/năm.
- Kết quả tổ chức “Ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư”:
- Số lượng khu dân cư tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” 368/368 khu dân cư, đạt tỷ lệ 100%, người dân tham gia “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” với số lượng và chất lượng ngày càng cao.     
5.  Xây dựng Xã văn hóa nông thôn mới, Phường văn minh đô thị:
a) Xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới:
Trong 5 năm triển khai thực hiện Đề án xây dựng nông thôn mới, bộ mặt nông thôn ở 8 xã đã có sự thay đổi rõ rệt: Hệ thống giao thông, điện, trường học, trạm y tế... được đầu tư toàn diện, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất phát triển phù hợp, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường, an ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Cuối năm 2014, xã Vĩnh Ngọc và Vĩnh Hiệp được UBND tỉnh công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới. Hiện nay thành phố chưa có xã nào đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới.
b) Xây dựng Phường đạt chuẩn văn minh đô thị:
Năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư số 02/2013/TT-BVHTTDL ngày 24/01/2013 về Quy định tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “Phường đạt chuẩn văn minh đô thị”. Tuy nhiên, đến nay chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện của Ban Chỉ đạo tỉnh, qua kiểm tra thực tế hiện nay  thành phố chưa có phường nào đạt chuẩn “ Phường văn minh đô thị”.
6. Xây dựng cơ quan, đơn vị, trường học văn hóa:
Từ năm 2001 đến năm 2014, Liên đoàn Lao động thành phố tổ chức đăng ký xây dựng cơ quan văn hóa trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, công ty Cổ phần, Doanh nghiệp Nhà nước và Trường học. Có 100% cơ quan đơn vị, trường học đăng ký xây dựng trường học văn hóa. Đến năm 2015, thực hiện Thông tư số 08/2014/TT-BVHTTDL ngày 24/9/2015 và Công văn số 3298/UBND-VX ngày 28/5/2015 của UBND tỉnh Khánh Hòa về xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa và Công văn Hướng dẫn liên ngành số 3337/HD-BVHTTDL-TLĐ ngày 10/8/2015 của Liên ngành: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Tổng liên đoàn lao động Việt Nam là các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của tỉnh chuyển về cho Ban Chỉ đạo thành phố xét công nhận  lần đầu và cấp Giấy công nhận cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa.
- Việc xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa được gắn với việc thực hiện các chỉ tiêu nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị. Trong đó phải hoàn thành các nội dung tiêu chí như:  Hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh dịch vụ, thực hiện nếp sống văn minh, môi trường văn hóa doanh nghiệp, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của người lao động và nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của đảng, pháp luật của Nhà nước
Từ những kết quả của phong trào xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa năm 2001, toàn thành phố có 95/143 cơ quan, đơn vị, trường học đạt văn hóa đạt tỷ lệ 66,4 đến năm 2015, ước có 450/500 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt văn hóa đạt tỷ lệ 90%.
            (Kết quả đạt danh hiệu cơ quan văn hóa xem bảng phụ lục)
7. Phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”:
- Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”  được thành phố quan tâm chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, đến nay phong trào thể dục, thể thao quần chúng phát triển sâu rộng, mạnh mẽ đến với tất cả các đối tượng, các đơn vị, trường học từ thành phố đến xã, phường, thôn, tổ dân phố. Năm 2001, thành phố có 46.147 người tập luyện TDTT đạt 14,4%, đến cuối năm 2015, có 148.185/376.029 người tập luyện TDTT thường xuyên, đạt 39,4% so với tổng số dân. Hàng năm, thành phố có 11 đơn vị được công nhận đơn vị TDTT tiên tiến cấp tỉnh.
- Hàng năm, ngoài kinh phí nhà nước đầu tư xây dựng các thiết chế thể thao, các hoạt động tổ chức thi đấu, tập luyện, thành phố còn vận động các tổ chức, cá nhân xây dựng 134 Câu lạc bộ thể thao ngoài công lập nhằm đáp ứng nhu cầu tập luyện thể thao của đông đảo quần chúng nhân dân và đóng góp hằng năm gần 300 triệu đồng để tổ chức các giải thi đấu.
( kèm theo phụ lục kết quả số người tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên)
8. Phong trào học tập, lao động, sáng tạo:
- Ngoài hoạt động giáo dục trong nhà trường, phong trào học tập lao động sáng tạo cũng được đẩy mạnh. Đến nay, thành phố có 27/27 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về Chống mù chữ - Phổ cập giáo dục Tiểu học; duy trì 27/27 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục Trung học cơ sở, phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi; Các phường Tân Lập, Lộc Thọ, Phước Tiến, Phước Hòa, Phước Long, Phước Tân và Phương Sài có nhiều biện pháp tốt trong công tác phổ cập giáo dục. Đến nay, 27/27 xã, phường có Trung tâm sinh hoạt văn hóa và học tập cộng đồng. Thành phố đã đầu tư kinh phí bước đầu cho các Trung tâm hoạt động là 780 triệu đồng.
- Hàng năm, qua phong trào thi đua cải tiến lề lối làm việc trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội thành phố và UBND các xã, phường đã xuất hiện nhiều sáng kiến hay, hữu ích cho công việc được Hội đồng Khoa học và Công nghệ thành phố công nhận, từ năm 2000 – 2014, toàn thành phố có gần 550 sáng kiến trong phong trào thi đua yêu nước được Hội đồng khoa học và công nghệ thành phố công nhận; tiêu biểu như: ông Lê Ngọc Lạc Châu, Công ty Môi trường Đô thị Nha Trang với thay đổi hệ thống phân phối nhớt (bộ chia nhớt) muỗng ép bằng cơ cấu điện sang cơ cấu cơ khí; chị Đỗ Thị Mỹ Chi, Hội Đông y thành phố với sáng kiến điều trị đau vai gáy bằng phương pháp điện châm, chị Nguyễn Thị Lệ, Phòng Kinh tế thành phố với sáng kiến triển khai ứng dụng phân trùn trong sản xuất rau an toàn… một số sáng kiến của hội viên Nông dân đã được đưa đi tham gia Hội thi sáng tạo Khoa học kỹ thuật tỉnh Khánh Hòa, tiêu biểu như ông Nguyễn Văn Huỳnh, chủ tịch Hội Nông dân xã Phước Đồng đạt giải ba với sáng kiến trồng đu đủ năng suất cao; ông Nguyễn Văn Thụ, Hội viên nông dân phường Vĩnh Phước đạt giải khuyến khích với sáng kiến kỹ thuật nuôi cua nước lợ; ông Trương Ngọc Tường, Hội nông dân phường Vĩnh Hòa với sáng kiến tạo ra môbin đèn, môbin lửa xe Honda…
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC NỘI DUNG VĂN HOÁ TRONG PHONG TRÀO TDĐKXDĐSVH
1. Đoàn kết giúp nhau “xoá đói giảm nghèo”:
- Trong phong trào xóa đói giảm nghèo, ngoài nguồn vốn giải ngân của Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ xóa đói giảm nghèo của các xã, phường, các đoàn thể   chính trị- xã hội thành phố như: Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân đã xây dựng nhiều mô hình giúp nhau “xoá đói giảm nghèo” như mô hình tổ tiết kiệm giúp vốn cho hội viên thoát nghèo không tính lãi hoặc không hoàn lại. Mô hình giảm nghèo do tổ dân phố thực hiện vận động có hiệu quả như: Tổ dân phố Thánh Gia (Vĩnh Nguyên) đã vận động các cơ sở sản xuất chế biến hải sản  trên địa bàn giải quyết việc làm cho người lao động nghèo trong tổ. Tổ 4 Hoàng Diệu (Vĩnh Nguyên) vận động tư nhân dạy nghề điện tử miễn phí cho thanh thiếu niên gia đình nghèo, tạo điều kiện cho họ tìm được việc làm để ổn định cuộc sống. Tổ dân phố Phường Củi Tây (Phương Sài) vận động cơ sở sản xuất giải quyết việc làm cho người nghèo. Tổ dân phố Đông Bắc (Vĩnh Hòa) vận động xây dựng 1 Tổ thêu hàng xuất khẩu và phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau giảm nghèo và làm giàu chính đáng, nông dân thành phố đã thực hiện thành công 32 mô hình điểm làm ăn có hiệu quả để nông dân tham quan học tập như mô hình sản xuất về nuôi gà sinh học, nuôi heo rừng, nhím, thỏ, ếch…16 mô hình đạt thu nhập 50 triệu đồng/năm và xây dựng 03 tổ liên kết sản xuất kinh doanh về trồng mai ghép, nuôi ốc hương giống, nuôi bò sữa; 02 tổ hợp tác chăn nuôi và 01 tổ tương trợ vốn. 
Cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" đã phát triển rộng khắp trong nhân dân, nó thể hiện tính nhân văn sâu sắc, thể hiện được chủ trương của Đảng hợp với lòng dân, nó khơi dậy mạnh mẽ đạo lý làm người, nếp sống cao đẹp của người Việt Nam. Nhiều tấm lòng nhân ái, nhiều nghĩa cử cao đẹp của các cơ quan đơn vị, tập thể, cá nhân, các tổ chức tôn giáo đã dành cho người nghèo. Trong 15 năm qua đã xây dựng mới: 1.021 nhà, sửa chữa trên 324 nhà tình thương, nhà Đại đoàn kết cho người nghèo với tổng giá trị trên 20,5 tỷ đồng, và trên hàng trăm nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách được xây dựng mới và sửa chữa. Trong đó vốn đóng góp ở cộng đồng dân cư và gia đình dòng họ chiếm tỷ lệ 30% trở lên trên tổng giá trị. Do phương thức vận động phù hợp nên nhiều nguồn vốn đã được vận động, chất lượng xây dựng nhà Đại đoàn kết được bảo đảm, đồng thời hàng năm các xã, phường còn hỗ trợ vốn, phương tiện sản xuất, hỗ trợ học sinh nghèo hiếu học, cứu trợ gia đình khó khăn hoạn nạn, bệnh tật v.v... trên 4,9 tỷ đồng, qua đó đã góp phần xóa hộ đói, giảm hộ nghèo bền vững đáng kể.
Với kết quả thực hiện các mô hình trên, năm 2006 toàn thành phố có 8.499 hộ nghèo/70.005 hộ, chiếm tỷ lệ 12,14%. Đến cuối năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố còn 1,6%.
2. Thực hiện nếp sống văn hoá, kỷ cương pháp luật:
2.1. Thực hiện nếp sống văn hoá:
a) Xây dựng Nếp sống văn minh đô thị:
. Trong quá trình xây dựng quy ước để phát động xây dựng Làng - Tổ dân phố văn hóa đều đưa nội dung thực hiện nếp sống văn minh đô thị vào các quy ước ở các thôn, tổ dân phố văn hóa, các điểm sinh hoạt, vui chơi, tham quan du lịch công cộng đều xây dựng và niêm yết nội quy thực hiện nếp sống văn minh nơi công cộng. Để đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị của thành phố du lịch, năm 2009, UBND thành phố đã ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh đô thị trên địa bàn thành phố Nha Trang, từ khi Quy chế được ban hành Ban Chỉ đạo thành phố cũng đã định hướng cho Ban Chỉ đạo các xã, phường lồng ghép việc triển khai phong trào “TDĐKXDĐSVH” với việc thực hiện “Quy chế thực hiện nếp sống văn minh đô thị trên địa bàn thành phố Nha Trang” để mang lại hiệu quả thiết thực; có biện pháp chỉ đạo cụ thể để xây dựng các thôn, tổ dân phố văn hóa khi được công nhận danh hiệu phải đảm bảo thực hiện tốt Quy chế nếp sống văn minh đô thị trong đó chú trọng về vệ sinh môi trường, trật tự đô thị, mỹ quan đô thị. Đến nay, đã có 70.251 hộ nhân dân và 8.023 hộ kinh doanh trên địa bàn thành phố đã ký cam kết thực hiện Quy chế. Hằng năm các xã, phường đều tổ chức ra quân lập lại mỹ quan đô thị, kiểm tra, xử lý vi phạm về trật tự đô thị, trật tự giao thông, quảng cáo biển hiệu, tổ chức tẩy xóa các số điện thoại và địa chỉ người làm dịch vụ không đúng nơi quy định trên các bức tường và trụ điện, xử lý các điểm đổ rác không đúng nơi quy định gây ô nhiễm môi trường. Qua đó, từng bước chấn chỉnh được tình hình trật tự đô thị và mỹ quan đô thị trên địa bàn thành phố. Một số tuyến đường chính, tụ điểm phức tạp về buôn bán kinh doanh lấn chiếm hè phố, lòng đường được chỉ đạo thực hiện giải quyết dứt điểm từng bước bảo đảm mỹ quan đô thị trên một số tuyến đường trung tâm thành phố.
b) Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội:
UBND thành phố chỉ đạo Phòng Văn hóa và Thông tin phối hợp với các cơ quan liên quan tuyên truyền những nội dung của Chỉ thị 27/CT-TU ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28/02/1998 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc thực hiện Nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội”, Quyết định số 308/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội và Công văn số 6598/UBND-VX ngày 11/12/2009 của UBND tỉnh Khánh Hòa về thực hiện nếp sống văn minh về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội  trong cán bộ công chức nhà nước, cán bộ, đoàn viên thanh niên, đoàn viên công đoàn và nhân dân ở các khu dân cư. 
- Về việc cưới: Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố, Phòng Tư Pháp thành phố, Thành Đoàn Nha Trang và Liên đoàn Lao động thành phố đã ký kết Chương trình phối hợp “Về việc đẩy mạnh thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới trong đoàn viên thanh niên, cán bộ công nhân viên chức” nhằm đẩy mạnh thực hiện nếp sống mới, lấy đối tượng đoàn viên thanh niên, cán bộ, công chức và viên chức làm gương để vận động thực hiện đồng bộ trên địa bàn thành phố. Nhìn chung việc cưới vẫn còn biểu hiện hình thức.
- Về việc tang: Trong các năm qua, đa số các đám tang trên địa bàn thành phố không có các hủ tục lạc hậu, rườm rà, nhiều thôn, tổ dân phố văn hóa đã vận động nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng Quỹ trợ tán, thành lập Ban trợ tán, Đội âm công để giúp đỡ, hỗ trợ cho các gia đình có việc tang. 
 Năm 2013, để triển khai  thực hiện nghiêm túc Kế hoạch số 89-KH/TU ngày 29/10/2009 của Thành ủy “về triển khai thực hiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 22/7/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội”; UBND thành phố đã ban hành Công văn số 3502/UBND-VHTT ngày 21/8/2013 và Kế hoạch số 644/KH-UBND-VHTT ngày 04/3/2014 “về việc triển khai tuyên truyền, vận động cán bộ công chức, viên chức, người lao động và nhân dân không rải tiền thật, rắc vàng mã trên đường đưa tang”, qua gần 03 năm tổ chức triển khai thực hiện bước đầu đã đạt được một số kết quả khả quan như:
Năm 2014: Tổng số đám tang: 1.296 đám (trong đó 35 trường hợp là gia đình Công giáo + 05 TH không tổ chức tang lễ tại địa phương - không phải vận động). Số trường hợp địa phương chưa kịp đến vận động là 34 trường hợp. Còn lại số trường hợp đã đến vận động là 1.222 trường hợp, trong đó số hộ gia đình đã chấp hành không rãi vàng mã trên đường đưa tang: 884 trường hợp đạt 72,3% (884/1.222). Số trường hợp không chấp hành là 338 trường hợp. 
Năm 2015: Tổng số đám tang: 1.252 đám (trong đó 44 trường hợp là gia đình Công giáo + 06 TH không tổ chức tang lễ tại địa phương - không phải vận động). Số trường hợp địa phương chưa kịp đến vận động là 11 trường hợp. Còn lại số trường hợp đã đến vận động là 1.191 trường hợp, trong đó số hộ gia đình đã chấp hành không rãi vàng mã trên đường đưa tang: 1.138 trường hợp đạt 95,6% (1.037/1.077). Số trường hợp không chấp hành là 53 trường hợp. 
Từ những kết quả đạt được thành phố đã tổ chức Hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm và tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh việc triển khai thực hiện cuộc vận động này trong các năm tiếp theo.
- Về lễ hội: Thành phố Nha Trang hiện có 227 di tích – danh lam thắng cảnh và dấu hiệu di tích; trong đó có 35 đình làng ở các xã, phường. Đình làng là nơi thờ phụng các vị thần sáng lập làng và những người có công đức với làng, với nước. Mỗi năm, đình làng có 2 lễ hội cơ bản: một vào mùa Xuân để cầu phúc và một vào mùa Thu để cầu an. Các lễ hội dân gian và các lễ hội khác trên địa bàn thành phố được tổ chức, quản lý tốt, không để xảy ra vi phạm hoặc phô trương, lãng phí, góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa của địa phương. Trong lễ hội truyền thống ở địa phương không có tình trạng đốt vàng mã tràn lan.
Điểm đặc biệt trong công tác bảo tồn di tích của thành phố Nha Trang là đã huy động được sức mạnh của nhân dân cùng với Nhà nước bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích, nhất là đóng góp về mặt tiền của để trùng tu di tích. Đây là điều mà hầu hết các địa phương khác trong và ngoài tỉnh không thực hiện được. Từ năm 2007 đến năm 2015, Từ năm 2007 đến nay, đã có 21 di tích đình, đền, miếu được trùng tu với tổng kinh phí 6.424.742.397 đồng, trong đó kinh phí nhà nước đầu tư với tỷ lệ 80% là 4.165.943.986 đồng, nhân dân đóng góp 20% 2.258.798.411 đồng. Đặc biệt có di tích trùng tu bằng 100% tiền của nhân dân đóng góp, không chờ kinh phí của nhà nước.
2.2. Thực hiện kỷ cương pháp luật:
- Trong 15 năm qua, thành phố và các xã, phường đã tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan trực tiếp đến  công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Đã thực hiện tuyên truyền, phổ biến gần 600 lượt với trên 54.000 lượt người tham dự đặc biệt là việc tuyên truyền phổ biến và lấy ý kiến nhân dân đóng góp ý kiến vào dự thảo Hiến pháp năm 1992 sửa đổi; góp ý đối với dự thảo Luật đất đai; Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí, Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế giúp người dân nâng cao ý thức pháp luật, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân, từng bước đưa chủ trương, chính sách, của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. 
- Công tác hòa giải được Phòng Tư pháp thành phố phối hợp với Mặt trận tổ chức tập huấn, hướng dẫn về công tác hòa giải cho cán bộ tham gia làm công tác hòa giải ở cơ sở, thành phố đã củng cố được 367 tổ hoà giải ở địa bàn dân cư với 1845 thành viên, thời gian qua đã phối hợp hòa giải thành 1655/ 1950 vụ việc mâu thuẫn nhỏ và tranh chấp trong nội bộ nhân dân, làm cho khối đoàn kết được củng cố tăng cường, xây dựng tình làng nghĩa xóm, gia đình hòa hợp, góp phần giữ vững ổn định xã hội từ cơ sở.
- Nhìn chung, thời gian qua, công tác triển khai phổ biến, giáo dục pháp luật và các văn bản liên quan đã từng bước nâng cao sự hiểu biết của nhân dân về chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, qua đó người dân đã biết tự giác nhắc nhở nhau ý thức chấp hành pháp luật trong đời sống hàng ngày, vận động nhau chấp hành các quy định của pháp luật, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố. 
3. Xây dựng môi trường văn hoá:
a) Kết quả thực hiện các tiêu chí về bảo tồn môi trường sinh thái xanh - sạch - đẹp - an toàn:
- Thực hiện chương trình sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo Quy chuẩn Quốc gia, số hộ đạt chỉ tiêu nước sạch hợp vệ sinh trên địa bàn thành phố đạt 100%, riêng xã Phước Đồng, Vĩnh Lương còn một số hộ chưa được sử dụng nước sạch theo Quy chuẩn của Bộ Y tế. 
- Các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố cơ bản đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số cơ sở sản xuất kinh doanh chưa quan tâm đúng mức về môi trường như thải nước thải trực tiếp vào môi trường (một số cơ sở chế biến thủy sản), thải khí thải vào môi trường không có thiết bị hạn chế (một số cơ sở sản xuất bánh mì, chế biến cà phê…), gây tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho phép (một số cơ sở cưa xẻ gỗ, sản xuất nước đá, dịch vụ văn hóa…). 
- Hoạt động thu gom rác thải trên địa bàn thành phố do Công ty Cổ phần Môi trường đô thị thành phố đảm nhận đảm bảo việc thu gom rác thải sinh hoạt hàng ngày và triển khai thực hiện phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường, xây dựng môi trường xanh – sạch – đẹp ở các khu dân cư và tại các chợ nông thôn rác thải sinh hoạt đều được thu gom hàng ngày, tập trung về bãi rác theo quy định. Thực hiện mô hình khu dân cư tự quản về bảo vệ môi trường qua đó phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường. Đến nay có trên 90% Khu dân cư đăng ký triển khai mô hình tự quản về môi trường. 
- Đối với nước thải sinh hoạt, hầu hết các hộ dân đều xả nước thải vào hệ thống hầm tự hoại. Hầu hết các xã đều được quy hoạch có nghĩa trang tập trung theo quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt. Trong đó, xã Phước Đồng, xã Vĩnh Lương được quy hoạch nghĩa trang chung của thành phố.
- Trên các tuyến đường liên thôn đã được lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng và bê tông hóa. 
b) Kết quả xây dựng cộng đồng dân cư an toàn, không có tệ nạn xã hội:
- Trong 15 năm qua, các mô hình trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” đã và đang đi vào chiều sâu, nội dung thiết thực, tập trung vào công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, các nguồn tin cung cấp cho lực lượng công an đều có chất lượng, công tác hòa giải ở cơ sở được chú trọng. Hiện nay, có 100% thôn, tổ dân phố đăng ký các mô hình thôn, tổ không có tệ nạn và tội phạm ma túy; có 315/368 thôn, tổ không có đối tượng ma túy mới. Đã thường xuyên củng cố và duy trì hoạt động 19 Ban Bảo vệ dân phố, 27 Hội đồng an ninh trật tự, 19 Đội dân phòng, 15 đội Thanh niên Xung kích, 79 Tổ xe thồ tự quản… 
- Các mô hình đang phát huy tác dụng tốt như: “Giáo dục đối tượng tại cộng đồng dân cư”, “thôn tổ không có tệ nạn và tội phạm ma túy”, “mô hình 1 + 2”, “mô hình tuần tra nhân dân” (Phước Tiến); giáo dục quản lý thanh niên hư hỏng, không tái vi phạm pháp luật (Phương Sài), quản lý cho thuê nhà trọ (Vĩnh Phước)…
c) Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở:
- Thành phố đã chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị thuộc thành phố và UBND các xã, phường thường xuyên đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền bằng nhiều hình thức như: Tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, dự thảo các văn bản Luật. Tổ chức tốt các buổi tiếp xúc cử tri với Đại biểu Quốc hội; HĐND các cấp; xây dựng và thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa Mặt trận với HĐND, UBND, Công an, Kiểm lâm.
- Chính quyền và Mặt trận các cấp đã chủ động phối hợp trong việc công khai các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đóng góp xây dựng địa phương như: Xây dựng giao thông nông thôn, hẻm nội thị, điện chiếu sáng công cộng và các công trình phúc lợi khác đã phát huy được quyền dân chủ của nhân dân trong thảo luận bàn bạc và thống nhất mức huy động, giám sát trong xây dựng…Ngoài ra, còn tổ chức tốt việc lấy ý kiến đóng góp và lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do HĐND xã, phường bầu chọn; tham gia xây dựng Quy ước Làng – Tổ dân phố văn hóa; tham gia bầu Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng, góp ý cán bộ công chức Nhà nước nơi cư trú từng bước phát huy quyền dân chủ trong nhân dân. Nhiều công trình phúc lợi công cộng được nhân dân tham gia giám sát, chất lượng công trình có hiệu quả rõ rệt, từ đó tạo được lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
4. Xây dựng các thiết chế và hoạt động văn hoá - thể thao ở cơ sở:
- Đến nay, thành phố có 16 đơn vị được nhận trang thiết bị âm thanh ánh sáng theo Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với tổng giá trị 305.000.000 đồng. Trong đó cấp cho Trung tâm Văn hóa thành phố với tổng giá trị 40.000.000 đồng, cấp cho 13 nhà văn hóa thôn, tổ với tổng giá trị 230.000.000 đồng, cấp cho 02 nhà văn hóa xã với tổng giá trị 35.000.000 đồng. Các trang thiết bị được cấp hiện đang phục vụ có hiệu quả thiết thực cho các buổi sinh hoạt văn hóa, hội họp của cộng đồng dân cư.
- Công tác xây dựng các thiết chế văn hoá- thể thao ở cơ sở cũng được thành phố và các xã, phường quan tâm chỉ đạo, Trong đó thành phố đầu tư hơn 70 tỷ đồng để xây dựng 28 dự án công trình văn hóa – thể thao theo tiêu chí nông thôn mới, trong đó có 06 Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã và 22 Nhà văn hóa – Khu thể thao thôn. 
5. Thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội có nội dung văn hoá:
Xác định nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của thành phố, các cơ quan thành viên Ban Chỉ đạo thành phố và Ban Chỉ đạo các xã, phường căn cứ nhiệm vụ được phân công, đã gắn các nội dung của phong trào “TDĐKXDĐSVH” với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội và chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan, đơn vị mình.
- Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo đã tham mưu kịp thời cho UBND thành phố chỉ đạo tháo gỡ các khó khăn, đẩy mạnh việc thực hiện phong trào; chọn xây dựng các mô hình điểm để rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng các “Làng văn hoá, Tổ dân phố văn hoá”. Đồng thời, thường xuyên hướng dẫn nội dung trọng tâm của phong trào, tổ chức các lớp tập huấn công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, công tác biên soạn Quy ước “Làng văn hóa - Tổ dân phố văn hóa”, công tác vận động thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội. 
- UBMTTQVN thành phố đã chỉ đạo các Ban công tác Mặt trận thực hiện phong trào xây dựng khu dân cư văn hóa với những nội dung cụ thể, thiết thực, gắn với việc triển khai phong trào xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, xóa nhà tranh tre dột nát và phong trào khuyến học, giáo dục con cháu hiếu thảo với ông bà, cha mẹ.
- Ban Tuyên giáo Thành ủy đã tập trung chỉ đạo thực hiện phong trào “người tốt, việc tốt” và tăng cường công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện phong trào.
- Liên đoàn Lao động thành phố chỉ đạo thực hiện phong trào xây dựng Cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa với nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, chỉ tiêu nhà nước giao, thực hiện tốt nếp sống văn minh đô thị, văn hóa công sở. 
- Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố đã lồng ghép phong trào xây dựng gia đình 4 tiêu chuẩn “no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” với cuộc vận động. Có nhiều biện pháp phong phú giáo dục nâng cao hiểu biết cho phụ nữ về tổ chức cuộc sống gia đình, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Đặc biệt, Hội đã tích cực chỉ đạo trong phong trào xây dựng quỹ tiết kiệm giúp đỡ phụ nữ thoát nghèo, phát triển kinh tế gia đình, tham gia giáo dục người lầm lỡ.
- Thành đoàn Nha Trang chú trọng giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên, đẩy mạnh phong trào Thanh niên tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng, xây dựng các Đội Thanh niên xung kích giữ gìn an ninh trật tự – an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội.
- Hội Nông dân thành phố đã tích cực xây dựng phong trào nông dân sản xuất giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng và xây dựng “Gia đình nông dân văn hóa”.
- Hội Cựu chiến binh thành phố đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động cán bộ và Hội viên phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” tích cực tham gia phong trào xây dựng “Gia đình văn hóa”, tập trung xây dựng 2 mô hình “toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm, cảm hóa, giáo dục, cải tạo người phạm tội tại gia đình và cộng đồng dân cư” và “Đường Cựu chiến binh tự quản”.
- Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố đã tích cực triển khai thực hiện Chương trình giải quyết việc làm – giảm nghèo, công tác xây dựng thôn, tổ dân phố xã, phường lành mạnh không phát sinh tệ nạn mại dâm, ma túy.
- Phòng Tư pháp thành phố đã tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật và hướng dẫn xã, phường thực hiện tốt công tác hòa giải để góp phần giữ gìn an ninh trật tự ở khu dân cư. Phối hợp thẩm định các Quy ước Làng văn hóa, Tổ dân phố văn hóa trình UBND thành phố phê duyệt. Phối hợp vận động thực hiện những quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và Quy chế nếp sống văn minh đô thị. 
- Công an thành phố đã phối hợp triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 09/1998/NQ-CP về Chương trình Quốc gia phòng, chống tội phạm, Chỉ thị 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 28/6/2002 của Tỉnh ủy về phòng, chống ma túy, tội phạm cướp giật và giải quyết tệ nạn ăn xin trên địa bàn tỉnh; Chỉ thị 05-CT/TU ngày 10/01/2007 của Thành ủy Nha Trang về tập trung công tác giải quyết cơ bản tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố, Kế hoạch 67/UBND ngày 11/01/2007 của UBND thành phố Nha Trang, Kế hoạch số 5674/KH-UBND ngày  18/12/2012 của UBND thành phố về Triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2012-2015.
IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG KẾT QUẢ PHONG TRÀO:
1. Ưu điểm:
Phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” thành phố trong 15 năm qua, đã đạt được nhiều kết quả khả quan, đáng phấn khởi. Phong trào đã từng bước đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, được nhân dân đồng thuận cao.  Vai trò và trách nhiệm của các phòng, ban, đơn vị thuộc thành phố, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội thành phố, UBND các xã, phường được đề cao. Những kết quả của phong trào góp phần xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội; khơi dậy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc như “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, “tình làng nghĩa xóm”; góp phần nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân thành phố, không ngừng thúc đẩy kinh tế - xã hội thành phố ngày càng phát triển. 
2. Hạn chế:
- Chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” thành phố chưa cao và thiếu bền vững. 
- Ý thức chấp hành pháp luật, nếp sống văn minh đô thị, vệ sinh môi trường của một bộ phận nhân dân còn hạn chế.
- Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa còn nhiều hạn chế, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang; việc công nhận các danh hiệu văn hóa ở một số địa phương còn chạy theo thành tích, số lượng.
- Kinh phí chi cho hoạt động văn hóa còn quá ít và không tương xứng với nhu cầu hưởng thụ văn hóa của thành phố đô thị loại I. Nhiều phường không có nhà văn hóa hoặc khu vui chơi giải trí cho thanh thiếu niên. Không bố trí được quỹ đất để xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao ở các phường .
3. Nguyên nhân của các hạn chế:
a) Nguyên nhân khách quan:
- Phong trào được gắn kết nhiều tiêu chí về kinh tế, văn hóa - xã hội ở cơ sở, nhưng đội ngũ cán bộ phụ trách phong trào văn hóa ở xã, phường cụ thể là công chức Văn hóa- Xã hội kiêm nhiệm nhiều việc và cán bộ thôn, tổ dân phố luôn thay đổi theo nhiệm kỳ bầu cử.
- Các văn bản chỉ đạo phong trào của các cấp có thẩm quyền chưa được thực hiện thống nhất và đồng bộ.
- Quá trình đô thị hóa thành phố diễn ra với tốc độ khá nhanh, góp phần nâng cao mức sống của nhân dân. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển cũng phát sinh một số vấn đề phức tạp nhất là tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường, trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị và ý thức chấp hành pháp luật, thực hiện Quy chế nếp sống văn minh đô thị trong các tầng lớp nhân dân chưa cao.
b) Nguyên nhân chủ quan:
           - Một số cấp ủy, chính quyền xã, phường chưa thật sự quan tâm đến phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thường khoán trắng cho UBMT Tổ quốc và công chức Văn hóa- Xã hội xã, phường.
           - Công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục xây dựng đời sống văn hóa, nếp sống văn minh đô thị chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục.
 - Việc đầu tư kinh phí cho hoạt động phong trào còn thấp, nhất là ở xã, phường. Việc huy động xã hội hóa đầu tư cho hoạt động văn hóa còn khó khăn.
3. Bài học kinh nghiệm:
 Qua 15 năm thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” thành phố rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
1. Thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Thành uỷ, HĐND, UBND thành phố, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các phòng, ban, đơn vị thuộc thành phố, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các đoàn thể chính trị- xã hội thành phố, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân thành phố trong việc tổ chức triển khai thực hiện phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
2. Tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở cơ sở.
3. Tăng cường trách nhiệm của từng thành viên Ban Chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từ thành phố đến cơ sở. Đồng thời thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và định kỳ tổ chức các hội nghị biểu dương khen thưởng kịp thời để cổ vũ động viên phong trào.
V. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO ĐẾN NĂM 2020
1. Phương hướng:
Trong 5 năm đến thành phố tập trung triển khai thực hiện Chương trình hành động của Thành uỷ Nha Trang về thực hiện Kết luận Hội nghị lần thứ 9 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá XI) “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015-2020, mà trọng tâm là tập trung thực hiện có hiệu quả Phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” ở địa bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ, văn minh, đạt chuẩn thực chất về văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, góp phần xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống tốt đẹp và đời sống văn hoá, phong phú, lành mạnh trong xã hội, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Tăng cường công tác quản lý các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, bài trừ các loại văn hoá phẩm phản động, độc hại, và sự xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch. Đồng thời triển khai có hiệu quả “Quy chế thực hiện nếp sống văn minh đô thị”, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong các hoạt động văn hoá, kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng góp phần xây dựng môi trường văn hóa, du lịch thành phố lành mạnh, an toàn, văn minh.
2. Nhiệm vụ:
Phấn đấu đến năm 2020 thành phố và xã, phường hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ sau:
- 100% hộ đăng ký Gia đình văn hóa. 
- 90% hộ gia đình được công nhận và giữ vững danh hiệu Gia đình văn hoá. Trong đó chất lượng Gia đình văn hóa phải được nâng lên.
- 70%  thôn, tổ dân phố được công nhận và giữ vững Thôn văn hóa, Tổ dân phố văn hóa. Trong đó chất lượng Khu dân cư văn hóa phải được nâng lên.
- 95% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp được công nhận đạt chuẩn văn hóa. 
- Số người tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên đạt 40%; số hộ gia đình thể thao đạt 45%; số xã, phường đạt chuẩn đơn vị thể dục, thể thao tiên tiến 75% ( trong đó 40% đơn vị thể dục, thể thao tiên tiến cấp tỉnh); các trường học, lực lượng vũ trang, cán bộ, công chức, viên chức tập luyện thể dục, thể thao 90%.
- 50 % “ Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới”.
- 50% “ Phường đạt chuẩn văn minh đô thị”.
- 100% người dân được tuyên truyền, phổ biến pháp luật và khoa học - kỹ thuật.
- 50% người dân ở cơ sở tham gia thường xuyên vào các hoạt động văn hóa, thể thao ở cộng đồng.
3. Giải pháp thực hiện:
Để hoàn thành tốt các chỉ tiêu đề ra, đề nghị các cấp, các ngành và xã, phường quan tâm thực hiện một số biện pháp sau:
- Tập trung triển khai có hiệu quả phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” trên cơ sở bổ sung nội dung, tiêu chí thực hiện góp phần xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; nâng cao hiệu quả cuộc vận động “ Ngày vì người nghèo” gắn với việc huy động mọi nguồn lực nhằm bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo người nghèo.
- Phối hợp triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 27CT/TU của Bộ Chính trị  ( khóa VIII) và Chỉ thị 14/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội nhất là tập trung vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân không rải tiền thật, rắc vàng mã trên đường đưa tang.
- Đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hóa; thôn, tổ dân phố văn hóa đi vào chiều sâu, chất lượng; nâng cao nhận thức và ý thức tự nguyện, tự giác của các gia đình trong xây dựng gia đình văn hóa; ý thức trách nhiệm của người dân và năng lực tự quản cộng đồng ở khu dân cư trong quá trình xây dựng, giữ vững danh hiệu thôn, tổ dân phố văn hóa.
- Xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa phải đảm bảo chất lượng, không chạy theo số lượng, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa phải hoàn thành tốt nhiệm vụ, chỉ tiêu nhà nước giao, thực hiện tốt nếp sống văn minh  đô thị, văn hóa công sở. 
- Xây dựng và phát động phong trào “ Người tốt, việc tốt” gắn với việc thực hiện Cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; xây dựng con người có đủ phẩm chất về tư tưởng, đạo đức, lối sống và nhân cách văn hóa, đáp ứng yêu cầu từng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước các hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng, nhằm ngăn chặn và đẩy lùi các loại văn hóa phẩm phản động, độc hại, các hoạt động văn hóa thiếu lành mạnh trên địa bàn thành phố. 
VI. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
1. Đối với Trung ương:
-  Đề nghị Trung ương xem xét đưa tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận các danh hiệu “Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới”, “Phường đạt chuẩn văn minh đô thị”, “Cơ quan – Đơn vị - Doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa”  bổ sung vào Luật Thi đua, Khen thưởng). 
2. Đối với tỉnh:
-  Đề nghị UBND tỉnh xem xét, quan tâm đào tạo, quy hoạch đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở cơ sở, hiện nay đội ngũ công chức Văn hóa- Xã hội xã, phường kiêm nhiệm quá nhiều việc.
- Đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nghiên cứu tham mưu, chỉ đạo việc triển khai thực hiện đồng bộ trong cả tỉnh về thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội” và Quyết định số 308/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.
- Đề nghị BCĐ tỉnh thường xuyên mở các lớp tập huấn nghiệp vụ cho BCĐ cấp huyện và được tham quan học tập kinh nghiệm ở các tỉnh bạn để vận dụng vào địa phương mình nhằm nâng cao chất lượng phong trào. 15 năm qua BCĐ thành phố và xã, phường chưa từng được đi tham quan học tập kinh nghiệm trong phong trào TDĐKXDĐSVH.
Trên đây là Báo cáo Tổng kết 15 năm thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” thành phố Nha Trang 2000 – 2015. Chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Thành uỷ, của các cấp uỷ Đảng xã, phường, sự phối hợp đồng bộ giữa các thành viên trong BCĐ và các ban ngành đoàn thể từ thành phố đến xã, phường, sự hỗ trợ của tỉnh, phong trào “TĐKXDĐSVH” thành phố Nha Trang sẽ đạt được kết quả tốt đẹp hơn, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Nha Trang lần thứ XVI (2016-2020)./.

Tải văn bản đầy đủ tại đây.

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Chung tay day lui Covid
Nha Trang Diem Den An Toan
Nói không với tin giả về covid-19
Đăng ký cấp chứng thư số cơ quan và cá nhân
Video phải
Góp ý dự thảo văn bản
Pho bien giao duc phap luat
Tuyen truyen Bien Dao
Công Báo Khánh hoà
Cổng thông tin điện tử Khánh Hoà
Bộ Văn hóa Thể thao
Sở Văn hóa Thể thao
Hình ảnh hoạt động

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 13

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 12


Hôm nayHôm nay : 85

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 203596

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4881219